Trang chủ > Âm Dương Ngũ Hành, Lý thuyết, Nghiên cứu > Cơ sở học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH-2

Cơ sở học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH-2

Cập nhật lúc 27 Tháng năm 2008 – 09:38 PM

3. Vận hành của dòngKhí âm

a. Vận động của dòng khí âm trong Tam tài:

Vì dòng Khí âm là dòng các hiệu ứng của các tương tác biến đổi, phát triển sự vật, nên vận động của Khí âm trong Tam tài thể hiện qua chiều các quan hệ tương tác giữa các yếu tố của chúng. Quan hệ tương tác trong Tam tài (Dương khắc Âm , Âm sinh Chung, Chung khắc Dương) và bản chất của Âm qui định dòng Khí âm xuất phát từ Âm qua Chung rồi tới Dương.

Những biến động trong Âm làm ảnh hưởng tới sự hình thành các giá trị mới trong tương tác âm dương theo quan hệ Âm sinh Chung tác động tới Chung. Hiệu ứng này theo quan hệ Chung khắc Dương làm cho Dương phải thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của Âm. Sự thay đổi đó lại theo quan hệ Dương khắc Âm mà tác động tới Âm có tác dụng hỗ trợ hay kìm hãm sự biến động vừa xuất hiện đó trong Âm.

Như vậy, vận động của dòng Khí âm trong Tam tài như sau:

Âm -> Chung -> Dương

Resized to 79% (was 938 x 848) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Trong thời kỳ Tiên thiên, các yếu tố chưa xung đột, mâu thuẫn, chúng đều vận động đúng theo bản chất của chúng. Dòng Khí âm vận hành qua hết các yếu tố âm, rồi qui tàng ở Thổ, tiếp đến qua hết các yếu tố dương. Tuy nhiên, khi tới thời kỳ Hậu thiên, trong quá trình tương tác âm dương, giữa những yếu tố nảy sinh xung đột dẫn đến sự phân bố lại vị trí các yếu tố theo nguyên lý trong Thái có Thiếu, trong Thiếu có Thái, làm cho quĩ đạo vận hành của Khí âm trong sự vật cũng thay đổi theo.

b. Vận động của dòng khí âm trong Ngũ hành:

Trong thời kỳ Tiên thiên:

Nếu như dòng Khí dương vận động trong sự tương tác làm cho các yếu tố của sự vật có xu hướng quay về bản chất của nó, nên bản chất âm dương của các yếu tố quyết định sự vận hành của dòng Khí dương, thì dòng Khí âm có xu hướng làm cho sự vật biến đổi, sinh ra cái mới nên tính “Thái”, “Thiếu”(“cũ”, “mới”) của các yếu tố quyết định sự vận hành của Khí âm.

Như đã thấy, trong thời kỳ Tiên thiên, theo bản chất âm dương, để phân tích sự vận hành của dòng Khí dương, Ngũ hành được mô tả trong đồ hình Tiên thiên Ngũ hành như sau:

Resized to 59% (was 1268 x 480) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Ta cũng biết rằng, Thuỷ thuộc Thái dương, Hoả thuộc Thái âm, Kim thuộc Thiếu âm, Mộc thuộc Thiếu dương. Để tìm hiểu vận hành của Khí âm trong Ngũ hành, ta phải phân bố lại các hành theo bản chất “Thái” (tĩnh, cũ, có trước), “Thiếu” (động, mới, có sau) như sau:

 

Resized to 59% (was 1268 x 480) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Ta biết rằng, Kim, Mộc là các hành có khả năng thay thế cho Thủy, Hỏa trong sự vật mới khi mâu thuẫn âm dương đủ gay gắt dẫn đến sự tiêu vong của sự vật cũ. Như vậy, về bản chất Kim thuộc Thái, Mộc thuộc Thiếu. Khí âm có bản chất vận hành từ Thiếu (mới) tới Thái (cũ). Mặt khác, Thái thuộc dương, Thiếu thuộc Âm nên trong Thiếu (do Thiếu thuộc âm đồng bản chất với Khí Âm), dòng khí âm vận hành theo đúng bản chất của nó từ Thiếu tới Thái. Ngược lại, trong Thái, do Thái (thuộc dương) nghịch bản chất với Khí âm, nên dòng Khí âm phải vận hành từ Thái tới Thiếu. Như vậy, từ vận hành của dòng Khí âm trong Tam tài ta suy ra vận hành của dòng Khí âm trong Ngũ hành như sau:
Âm -> Chung -> Dương
=> Thiếu -> Chung -> Thái
= > Mộc -> Kim -> Thổ -> Thuỷ -> Hoả

Resized to 90% (was 828 x 826) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đó là đồ hình Tiên thiên Ngũ hành Phi tinh mô tả vận động của dòng Khí âm qua Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên.

Trong thời kỳ Hậu thiên:

Do mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tương tác “Thái”, “Thiếu” giữa những yếu tố của sự vật, các hành được phân bố lại theo nguyên lý trong “Thái”, có “Thiếu” , trong “Thiếu” có “Thái”. Như đã phân tích ở trên, Thủy, Kim thuộc Thái. Hỏa, Mộc thuộc Thiếu nên khi phân bố lại các hành thì Hỏa, Mộc đổi chỗ cho nhau. Kết quả, phân bố Ngũ hành trở thành:

 

Resized to 59% (was 1268 x 480) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Nhận xét rằng, sự khác biệt của sự phân bố Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên và Hậu thiên trong tương tác “Thái”, “Thiếu” chỉ khác nhau ở chỗ có sự hoán vị của hai hành Hỏa và Mộc. Do đó, vận động của Khí dương trong Ngũ hành ở thời kỳ Hậu thiên là:

 

Hỏa -> Kim -> Thổ -> Thuỷ -> Mộc
Posted Image

Đó là đồ hình Hậu thiên Ngũ hành Phi tinhmô tả vận động của dòng Khí âm qua Ngũ hành trong thời kỳ Hậu thiên.c. Vận động của Khí âm trong Bát quái:

Tiên thiên Bát quái Phi tinh:

Như ta đã biết, phân bố các quái trong Ngũ hành ở thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn “Thái”, “Thiếu” trong sự vật chưa bộc lộ rõ , như sau

Resized to 59% (was 1268 x 480) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Trong thời kỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn âm dương, Ngũ hành đưộc phân bố lại theo nguyên lý: trong “Thái” có “Thiếu”, trong Thiếu” có “Thái” như sau :

Posted Image

Lúc ban đầu của thời kỳ Hậu thiên, mâu thuẫn các quái chưa bộc lộ, chúng vẫn được phân bố theo bản chất ban đầu của chúng trong Ngũ hành Hậu thiên :

Resized to 56% (was 1331 x 835) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đó là phân bố Tiên thiên Bát quái Phi tinh.

Nhận xét rằng, Thái thuộc dương, tịnh, nghịch bản chất với Khí âm; Thiếu thuộc âm, động, đồng bản chất với Khí âm. Nên, trong Thiếu, dòng Khí âm vận hành theo bản chất của nó từ yếu tố mới (Thiếu) tới yếu tố cũ (Thái). Trong Thái, ngược lại, dòng Khí âm vận hành có chiều từ Thái tới Thiếu.

Do đó, vận động của dòng Khí âm trong thời kỳ này như sau:

– Trong “Thiếu”: Khí âm có thể vận hành Thiếu tới Thái .

+ Trong Hoả: CẤN -> KHÔN. (Các quái âm)

+ Trong Kim: KHÃM-> TỐN. (Các quái âm)

– Trong “Thái”: Khí âm phải vận hành từ Thái tới Thiếu.

+ Trong Thuỷ: CÀN -> ĐOÀI. (Các quái dương)

+ Trong Mộc: CHẤN -> LY. (Các quái dương)

Từ đồ hình Hậu thiên Ngũ hành Phi tinh: Hỏa -> Kim -> Thổ -> Thuỷ-> Mộc ta suy ra thứ tự vận hành của dòng khí âm trong bát quái sẽ là:

CẤN -> KHÔN -> KHẢM -> TỐN -> THỔ -> CÀN -> ĐOÀI -> CHẤN ->LY

 

Resized to 63% (was 1185 x 1185) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đó là đồ hình Tiên thiên Bát quái Phi tinh, mô tả vận động của dòng Khí âm trong bát quái thời kỳ Tiên thiên.

——–

Cập nhật lúc 27 Tháng năm 2008 – 10:23 PM

Hậu thiên Bát quái Phi tinh:

Trong thời hỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn nảy sinh trong tương tác cũ mới, các quái cũng được phân bố lại theo nguyên lý trong “Thái” có “Thiếu”, trong “Thiếu” có “Thái”. Do bản chất các hành nằm trong các quái “Thái” nên sự phân bố lại chỉ phải đổi chỗ các quái “Thiếu” CẤN với KHẢM, ĐOÀI với LY ta được đồ hình phân bố Hậu thiên bát quái Phi tinh như sau:

Resized to 56% (was 1331 x 835) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Tiên thiên Bát quái Phi tinh thực hiện đổi chỗ CẤN với KHẢM, ĐOÀI với LY theo đúng lý luận trên, ta được đồ hình sau:

KHẢM -> KHÔN -> CẤN -> TỐN -> THỔ -> CÀN -> LY -> CHẤN -> ĐOÀI

Posted Image

Đó là đồ hình Hậu thiên Bát quái Phi tinh, mô tả vận động của dòng Khí âm trong Bát quái thời kỳ Hậu thiên.

Người ta đánh số thứ tự vận hành của dòng Khí âm qua các quái ở thời kỳ Hậu thiên, kết quả như sau:

KHẢM – 1, KHÔN – 2, CẤN – 3, TỐN – 4, THỔ – 5, CÀN – 6, LY – 7, CHẤN – 8, ĐOÀI – 9.

Các số tứ tự đó gọi là các “cục” hay “ độ số” của các quái.

Như vậy, phân bố các quái trong Ngũ hành ở thời kỳ Tiên thiên và Hậu thiên khác nhau do nguyên lý phân bố trong âm có dương, trong dương có âm ở thời kỳ Hậu thiên:

Trong thời kỳ Tiên thiên, các hành có độ số là:

Thuỷ có độ số 6 – 9 chứa CÀN, ĐOÀI (Thái thái dương và Thiếu thái dương)

Hoả có độ số 2 – 3 chứa KHÔN, CẤN (Thái thái âm và Thiếu thái âm)

Mộc có độ số 3 – 7 chứa CHẤN, LY (Thái thiếu dương và Thiếu thiếu dương)

Kim có độ số 4 – 1 chứa TỐN, KHẢM (Thái thiếu âm và Thiếu thiếu âm)

(Chú ý: Hai yếu tố đầu tiên của các quái trong một hành luônn giống nhau, chỉ khác nhau tính “Thái”, “Thiếu” ở yếu tố thứ ba thể hiện tính thống nhất, tuy khác nhau nhưng không mâu thuẫn trong thời kỳ Tiên thiên)

Trong thời kỳ Hậu thiên, các hành có độ số là:

Thuỷ có độ số 1 – 6 chứa CÀN, KHẢM (Thái thái dương và Thiếu thiếu âm)

Hoả có độ số 2 – 7 chứa KHÔN, LY (Thái thái âm và thiếu thiếu dương)

Mộc có độ số 3 – 8 chứa CHẤN, CẤN (Thái thiếu dương và Thiếu thái âm)

Kim có độ số 4 – 9 chứa TỐN, ĐOÀI (Thái thiếu âm và Thiếu thái dương)

(Chú ý: Các yếu tố “Thái”, “Thiếu”, “âm”, “dương” của các quái trong một hành luôn đối ngược nhau trong thời kỳ Hậu thiên thể hiện sự xung đột, đấu tranh, tương tác, mâu thuẫn trong thời kỳ này)

Hành Thổ có độ số là 5. Nhưng trong thời kỳ Hậu thiên, do kết quả của đấu tranh, mâu thuẫn và phát triển, hành Thổ có cả dương Thổ và âm Thổ, thì người ta thêm môt số nữa là 10 ký hiệu cho âm Thổ, còn dương Thổ có độ số 5. Tuy nhiên, Thổ âm chỉ là những yếu tố Chung mới nảy sinh trong tương tác âm dương tuy khác Thổ dương là Thổ có trước nhưng không mâu thuẫn, đấu tranh nhau. Vì vậy, hiệu ứng dương hay âm đều không phân biệt Thổ âm hay Thổ dương. Do đó, dòng Khí âm hay dương vận động qua Thổ chỉ có một bước như vận động qua các yếu tố Bát quái khác. Tuy nhiên, khảo sát sự phát triển của sự vật thì Thổ âm đóng vai trò như một yếu tố cần phải tính đến.

Vận động của Khí âm qua các quái theo đồ hình Hậu thiên Bát quái Phi tinh tương ứng với 2 vòng vận động qua các hành ở thời kỳ Hậu thiên Bát quái, một vòng qua hết các quái âm của các hành trở về Thổ còn vòng thứ hai qua hết các quái dương của các hành theo thứ tự như sau:

Thuỷ -> Hoả -> Mộc -> Kim -> Thổ
Posted Image

Cứ sau 5 bước vận hành, dòng Khí âm lại trở về hành ban đầu.
Vận động của dòng Khí dương qua các quái theo đồ hình Hậu thiên Bát quái tương ứng với 1 vòng vận động qua các hành qua hết các quái của các hành trở về Thổ theo thứ tự như sau: 

Thuỷ -> Mộc -> Kim -> Hoả -> Thổ
Thái -> Thiếu – > Thiếu – >Thái – > Thái -> Thiếu – > Thiếu – >Thái – > Thổ Posted Image

Bảng so sánh vận động của Khí âm và Khí dương qua các yếu tố của sự vật.
Posted Image

———–

Cập nhật lúc 01 Tháng sáu 2008 – 09:08 AM

4. Vận động phát triển tiến hoá của sự vật trong Ngũ hành

a. Vượng khí và sự vận động của Vượng khí

Trong sự vật, các yếu tố vận động và phát triển cũng không đều nhau. Có yếu tố trong kỳ hưng thịnh, trong khi những yếu tố khác trong thời kỳ suy giảm. Sự hưng thịnh của các yếu tố cũng phải theo một trật tự nhất định khiến người ta hình dung như có một dòng khí lưu chuyển qua những yếu tố đó làm cho nó phát triển mạnh hơn lên. Dòng khí đó gọi là dòng Vượng khí.

Như vậy, dòng Vượng khí là thứ tự hưng thịnh cùa các yếu tố trong sự vật. Nó là tổng hợp của các hiệu ứng tương tác âm dương có tác dụng làm cho sự vật phát triển.

Trong Ngũ hành, một hành có quan hệ tương sinh, tương khắc với 4 hành còn lại. Khi một hành hưng thịnh, nó có thể làm cho hành mà nó sinh phát triển mạnh hơn, hành nó khắc suy yếu đi, hành sinh ra nó hao tổn, hành khắc nó bất cập. Do đó, khi nó suy yếu đi, hành mà nó sinh trở nên hưng thịnh. Như vậy, thứ tự hưng thịnh của các hành theo chiều tương sinh hay dòng Vượng khí vận động theo chiều Ngũ hành tương sinh trong một sự vật:

Mộc – > Hoả – > Thổ – > Kim – > Thuỷ
Hay: Kim – > Thuỷ – > Mộc – > Hoả – > Thổ

Resized to 81% (was 923 x 416) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image


Vận động của dòng Vượng khí trong Ngũ hành
Trong mỗi hành, quái “Thái” có trước, hưng thịnh trước. Khi quái “Thái” suy giảm, quái “Thiếu” mới hưng thịnh sau. Điều đó có nghĩa là, trong mỗi hành, dòng sinh khí vận động từ quái “Thái” tới quái “Thiếu”. Do đó, ta có vận động của dòng Vượng khí trong Bát quái một sự vật như sau:
CHẤN→CẤN → KHÔN → LY → THỔ dương → THỔ âm → TỐN → ĐOÀI → CÀN → KHẢMHay:

TỐN → ĐOÀI → CÀN → KHẢM → CHẤN → CẤN → KHÔN → LY → THỔ dương → THỔ âm

Posted Image

Vận động của dòng Vượng khí trong Bát quái
b. Hoá khí và sự vận động của Hoá khí

Như ta đã biết, sự xuất hiện Kim, Mộc nằm trong xu hướng giải quyết mâu thuẫn âm dương đang ngày càng gay gắt, làm mâu thuẫn này giảm đi để sự vật phát triển thuận lợi. Nếu mâu thuẫn này không được giải quyết, và ngày càng gay gắt, các hành Thủy, Hỏa ngày càng suy yếu, Kim, Mộc ngày càng thịnh dẫn đến quan hệ tương sinh Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy sẽ chuyển thành tương thừa làm cho Thủy và Hỏa bị tiêu diệt, sự vật cũ bị tiêu biến đi và sinh ra sự vật mới với quan hệ âm dương mới do Mộc, Kim của sự vật cũ đóng vai trò Dương, Âm.

Như vậy, ta có sơ đồ sau: 

Resized to 70% (was 1064 x 795) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Sơ đồ cho thấy, kết quả của quá trình tiến hoá là sự huỷ diệt của sự vật cũ và sinh ra sự vật mới có quan hệ sinh đối với sự vật cũ. Nói cách khác, sự tiến hoá có chiều ngược với chiều tương sinh. Như vậy, sự tiến hoá của sự vật cũng theo một trật tự nhất định trong sự vật chứa sự vật đang tiến hoá. Trật tự này có thể hình dung như một dòng Hoá khí vận động trong sự vật làm cho các yếu tố của sự vật tiến hoá không ngừng. Chiều của dòng Hoá khí ngược với chiều tương sinh:

 

Thuỷ – > Kim – > Thổ – > Hoả – > Mộc
Hay: Hoả – > Mộc – > Thuỷ – > Kim – > Thổ

Resized to 81% (was 921 x 414) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Vận động của dòng Hóa khí trong Ngũ hành
Trong Bát quái, khi hành này biến đổi thành hành khác thì các quái “Thái” và các quái “Thiếu” biến đổi theo thành :Thái” và “Thiếu” của hành mới. Do đó, vận hành của dòng Hoá khí trong Bát quái như sau:

 

Resized to 42% (was 1779 x 827) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Vận động của dòng Hóa khí trong Bát quái

——-

Cập nhật lúc 01 Tháng sáu 2008 – 09:26 AM

VI./ CẤU TRÚC ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA KHÔNG GIAN

1. Cáu trúc Ngũ hành, Bát quái của không gian

Không gian mà trong đó vũ trụ chúng ta đang tồn tại củng chỉ là một tượng trong Vạn tượng sinh ra từ Đạo mà thôi. Trong không gian, vật chất tồn tại và vận động từ vị trí này sang vị trí khác, hay thịnh suy của vật chất biến đổi theo các vị trí đó. Như trên đã phân tích, sự thịnh suy của các yếu tố vận hành theo chiều Ngũ hành tương sinh hay theo dòng Sinh khí. Vì thế, có thể quan sát vận động của vật chất để suy ra cấu trúc Ngũ hành,Bát quái của không gian.

Quan sát vận động của các hạt vật chất trong không gian ta thấy chúng luôn có xu hướng quay quanh một trung tâm nào đó (Điện tử quay quanh hạt nhân nguyên tử, trái đất tự quay quanh mình nó, trái đất quay quanh mặt trời, thái dương hệ quay quanh trung tâm Thiên hà,…)

Posted Image

Giả sử rằng, có một hạt vật chất chuyển động với vận tốc v, quay quanh một điểm O nào đó trong không gian. Vì vạn tượng vận động theo chiều tương sinh, nên không gian quanh điểm O có cấu trúc Ngũ hành tương sinh theo chiều quay của hạt vật chất quanh O. Mặt khác, như đã biết, trong Ngũ hành, hành Thổ là phần chung của các hành còn lại, thể hiện tính thống nhất trong tương tác âm dương. Do đó, hành thổ phải nằm ở vị trí trung tâm, và các hành khác phân bố xung quanh theo chiều dòng Vượng khí: Kim – > Thuỷ – > Mộc – > Hoả trùng với quĩ đạo của hạt vật chất (dòng vật chất chuyển động, về mặt tổng quát, có thể coi như là sự hưng vượng của vật chất ở các vị trí khác nhau trong không gian tại những thời điểm khác nhau mà thôi).

Resized to 70% (was 1062 x 453) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Nếu biểu diễn sự phân bố các hành như trên theo hướng của chúng trong không gian thì véc tơ mô men động lượng của hạt vật chất khi nó chuyển động với vận tốc v quay xung quanh điểm O trùng với hướng của hành Thổ, còn hướng của các hành khác phân bố trong mặt phẳng quĩ đạo hạt vật chất theo chiều Vượng khí

Posted Image

Đó chính là cấu trúc Ngũ hành của không gian.Việc xác định hướng của các hành còn lại cần căn cứ vào đặc điểm cụ thể của không gian cần khảo sát.

Ví dụ, hành Hoả – Thái âm đặc trưng là động tính, nên ở hướng này, các hạt vật chất vận động mạnh hơn các hướng khác hay nhiệt độ cao hơn. Hành Thuỷ – Thái dương đặc trưng là tịnh tính, nên ở hướng này, các hạt vật chất chuyển động chậm hơn các hướng khác hay nhiệt độ thấp hơn.

Khi xác định được hướng của các hành Thuỷ hay Hoả, dựa vào cấu trúc của không gian như trên ta có thể xác định được hướng của các hành còn lại. Sau đó, áp dụng đồ hình dòng Vượng khí trong Bát quái ta có thể xác định được cấu trúc Bát quái của không gian như sau:

 

Resized to 49% (was 1539 x 615) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
2. Ứng dụng cáu trúc Ngũ hành, Bát quái của không giana. Nạp Ngũ hành cho 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông

Ta biết rằng 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay chuển quanh năm là do trái đất quay quanh Mặt trời không phải theo một vòng tròn tuyệt đối mà theo một hình elip nhận Mặt trời là một tiêu điểm.

Resized to 94% (was 794 x 623) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Mùa Đông tương ứng khi trái đật ở xa mặt trời, mùa Hạ tương ứng với vị trí trái đất ở gần mặt trời hơn cả. Sở dĩ trái đất quay quanh mặt trời do cấu trúc Ngũ hành của không gian quanh mặt trời qui định. Áp dụng cấu trúc Ngũ hành của không gian Đã phân tích ở trên cho hệ quay của trái đất quanh mặt trời ta thấy:

+ Phuơng của hành Thủy trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở xa mặt trời nhất, tương ứng với mùa Đông.

+ Phương của hành Hỏa trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở gần mặt trời nhất tương ứng với mùa Hạ.

+ Phương của hành Kim trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở mùa Thu.

+ Phương của hành Kim trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở mùa Xuân.

+ Mặt trời ở trung tâm, thuộc hành Thổ.

+ Chiều quay của trái đất quanh măt trời là chiều Thu > Đông > Xuân > Hạ trùng với chiều cấu trúc Ngũ hành của không gian là Kim > Thủy > Mộc > Hỏa

Resized to 98% (was 761 x 623) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Do đó, nạp Ngũ hành cho mùa như sau:

Mùa Đông thuộc hành Thủy

Mùa Hạ thuộc hành Hỏa

Mùa Xuân thuộc hành Mộc

Mùa Thu thuộc hành Kim

———–

Cập nhật lúc 01 Tháng sáu 2008 – 09:44 AM

b. Hà đồ – bảng cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất Bắc bán cầu

Xét một không gian phẳng trên mặt đất ở bắc bán cầu ta thấy:

+ Phương của hành Thủy là phương Bắc do phương Bắc lạnh hơn.

+ Phương của hành hỏa là phương Nam do phương Nam nóng hơn.

Áp dụng cấu trúc Ngũ hành của không gian ở trên ta có 2 khả năng phân bố của hành Kim và Mộc như sau:

Resized to 70% (was 1062 x 453) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image


Sự vận động của vật chất theo chiều dòng Vượng khí chứng tỏ rằng, tồn tại một môment lực theo chiều mũi tên ở các hình mô tả các khả năng trên ở qui mô toàn cầu. Môment lực này tác động lên trái đất khi trái đất tự quay quanh mình nó tất yếu sẽ dẫn đến một chuyển động tiến động làm cho trục quay của trái đất lệch đi một góc so với mặt phẳng quĩ đạo trái đất khi nó quay quanh mặt trời.

Resized to 72% (was 1035 x 653) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Căn cứ vào chiều lệch của trục tự quay của trái đất như hình vẽ trên ta thấy chỉ có một phương án cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất bên phải là phù hợp làm cho trục trái đất bị lệch đi theo đúng chiều của moment lực mà cấu trúc Ngũ hành của nó tạo ra. Đó cũng chính là nguyên nhân của hiện tượng tuế sai mà cổ nhân đã phát hiện từ lâu. Điều này cũng làm cho hướng hành Thủy cũng lệch đi một góc so với phương Bác của địa cầu.
Như vậy, cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất ở Bác bán cầu như sau:

Posted Image

Từ đó suy ra cấu trúc Bát quái của không gian trên mặt đất ở Bác bán cầu là:

Resized to 75% (was 997 x 993) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Biểu diễn dưới dạng ma phương chín ô như sau:

Resized to 88% (was 850 x 729) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Nếu đánh độ số các quái như đã xác định ở phần trên vào các ô ta thu được đồ hình:

Resized to 88% (was 850 x 729) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đó chính là đồ hình Hà đồ mà cổ thư truyền lại cho tới ngày nay

Kết hợp độ số với các quái ta thu được đồ hình cấu trúc không gian trên mặt đất Bác bán cầu đầy đủ như sau:

——

Cập nhật lúc 01 Tháng sáu 2008 – 10:00 AM

Đối với Nam bán cầu, lý luận tương tự ta thấy:

– Cấu trúc Ngũ hành của không gian:

Resized to 83% (was 895 x 1193) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

– Cầu trúc bát quái của không gian:

Resized to 79% (was 948 x 944) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đồ hình Hà đồ Nam bán cầu:

Resized to 92% (was 813 x 708) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

————-

Cập nhật lúc 01 Tháng sáu 2008 – 03:21 PM

c. Lạc thư – bảng Ngũ hành về ành hưởng của mặt trời lên không gian trái đất khi trái đất tự quay quanh mình nó:

Xét một không gian giới hạn trên mặt đất Bắc bán cầu:

Do trái đất quay quanh Mặt trời, không gian đang xét có tính chất luôn thay đổi theo chu kỳ 1 ngày đêm. Ảnh hưởng của mặt trời tới không gian tới từ phương Đông, bên phải. Do đó, nửa bên trái không gian thuộc các hành “Thái” (Thuỷ, Hoả), nửa bên phải thuộc các hành “Thiếu” (Kim, Mộc).

Mặt khác, ở bán cầu bắc trái đất, phía Bắc lạnh hơn phía Nam nên nửa bên trái không gian có hành Thuỷ nằm ở phía trên, hành Hoả ở phái dưới. Nửa bên phải có hành Mộc nằm ở phía trên và hành Kim nằm ở phía dưới (Do Kim thuộc tĩnh trong động phải động hơn Mộc thuộc động trong tĩnh)

Do đó, ảnh hưởng của mặt trời lên không gian Bắc bán cầu khi trái đất tự quay quanh mình nó đặc trưng bằng đồ hình sau:

Resized to 76% (was 980 x 980) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Biểu diễn trên ma phương 9 ô ta được:

Resized to 85% (was 878 x 738) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Khi nạp quái cho các ô chúng ta chú ý rằng các quái “Thái” phải nằm ở phương vị chính của hành, quái “Thiếu” nằm ở các phần Chung, đồ hình phân bố Bát quái ảnh hưởng của mặt trời lên không gian Bắc bán cầu khi trái đất tự quay quanh mình nó như sau:

Resized to 84% (was 881 x 743) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Nếu dùng các cục của các quái thay thế biểu tượng các quái ta được đồ hình:

Resized to 84% (was 881 x 743) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đó chính là đồ hình Lạc thư mà cổ thư truyền lại cho tới ngày nay.

Đồ hình Lạc thư đầy đủ có các quái và cục số của chúnh như sau:

Resized to 93% (was 798 x 663) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đối với bán cầu nam, đồ hình Lạc thư tương ứng như sau:

Resized to 93% (was 798 x 663) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

————-

Cập nhật lúc 05 Tháng sáu 2008 – 05:33 PM

VII./ CẤU TRÚC ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA THỜI GIAN

1. Mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật

Thời gian là một khái niệm dùng trong sự mô tả quá trình phát triển, biến đổi của sự vật, thể hiện sự biến đổi của Vạn tượng trong quá trình tương tác âm dương. Do đó, thời gian không hề độc lập với sự vật và không hề có lý do tự thân, nó phải gắn bó với sự vật và thể hiện sự phát triển, biến đổi của sự vật.

Nói tính chất của thời gian là nói tính chất của đối tượng định mô tả biến thiên theo thời gian. Vạn tượng biến đổi không ngừng trong quá trình tương tác âm dương, vận động theo chiều tương sinh của dòng Vượng khí nên thời gian cũng “trôi” liên tục và tính chất của nó cũng phải biến thiên theo chiều Ngũ hành tương sinh.

Mộc – > Hoả – > Thổ – > Kim – > Thuỷ…

Trong quá trình tương tác âm dương, sự vật biến đổi không ngừng, lúc thịnh lúc suy. Khi mâu thuẫn âm dương quá gay gắt, sự vật bị phá huỷ và sinh ra một sự vật mới với cấu trúc Ngũ hành mới. Sự sinh, huỷ này không diễn ra ngay lập tức, mà luôn luôn phải qua một thời kỳ quá độ nhất định. Ở thời kỳ quá độ này, các tính chất cũ chưa mất đi hẳn, những tính chất mới chưa kịp hình thành đầy đủ, do đó chúng đồng thời tồn tại trong sự vật và đang trong quá trình chuyển hoá. Do đó, ở thời kỳ này sự vật thuộc Chung hay hành Thổ, sự vật cũ thuộc Dương, sự vật mới sinh thuộc Âm. Qua thời kỳ quá độ này, sự vật mới sẽ hình thành và phát triển, tiếp tục quá trình tương tác âm dương mới với cấu trúc Ngũ hành mới. Quá trình cứ tiếp diễn liên tiếp không ngừng nghỉ như thế làm cho sự vật sinh hoá liên miên.

Bám sát theo quá trình tiến hóa đó, tính chất của thời gian cũng biến đổi không ngừng tương ứng tính chất của sự vật như sau;

Mộc+ > Hoả+ > Thổ+ > Kim+ > Thuỷ+ > Thổ1 > Mộc- > Hoả- > Thổ- > Kim- > Thuỷ- > Thổ2 > (Mộc +)’ > (Hoả+)’ > (Thổ+)’ > (Kim+)’ > (Thuỷ+)’ > Thổ3 > …

(Chú ý rằng, để quá trình phát triển của sự vật diễn ra trên tất cả các yếu tố của nó trong một chu kỳ phát triển thì phải biểu diễn dòng Vượng khí bắt đầu từ hành Mộc)

Người ta mô hình hoá dãy biến đổi liên tục của thời gian trên thành dạng chu kỳ gồm hai nửa Dương (các hành thuộc sự vật cũ) và Âm (các hành thuộc sự vật mới) cách nhau bởi hai hành Thổ1 và Thổ2 vận động theo chiều tương sinh như sau:

 

Resized to 65% (was 1155 x 978) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật

Đó là mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật

Trong mô hình này, quan hệ các hành có một số thay đổi so với quan hệ Ngũ hành trước do mâu thuẫn âm dương ở cuối chu kỳ dương và đầu chu kỳ âm quá gay gắt dẫn đến sự tiêu huỷ của cái cũ và sự sinh trưởng của cái mới:

Thuỷ+ sinh Thổ1 (bình thường thì Thổ khắc Thuỷ)

Thuỷ- sinh Thổ2 (bình thường thì Thổ khắc Thuỷ)

Thổ1 sinh Mộc- (bình thường thì Mộc khắc Thổ)

Thổ2 sinh Mộc+ (bình thường thì Mộc khắc Thổ)

Thuỷ+ tương thừa Mộc+ (bình thường thì Thuỷ sinh Mộc)

Thuỷ- tương thừa Mộc- (bình thường thì Thuỷ sinh Mộc)

2. Quan hệ Địa chi

Như trên, ta đã thu được cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật gồm 12 yếu tố vận hành theo chiều tương sinh là:

Mộc+ > Hoả+ > Thổ+ > Kim+ > Thuỷ+ > Thổ1 > Mộc- > Hoả- > Thổ- > Kim- > Thuỷ- > Thổ2

Người xưa đặt tên cho chúng lần lượt là: Thân > Dậu > Tuất > Hợi > Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ > Ngọ > Mùi

Và gọi chúng là 12 Địa chi

Như vậy, Địa chi chính là cấu trúc Ngũ hành đặc tính của thời gian một chu kỳ tiến hoá của sự vật gồm 2 nửa âm và dương.

Căn cứ vào chiều tương sinh cùng ý nghĩa của các Địa chi, kết hợp với các đồ hình cơ bản quan hệ các yếu tố ta lập ra sơ đồ quan hệ giữa các Địa chi như sau:

Resized to 60% (was 1244 x 1310) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Nhìn trên sơ đồ quan hệ Địa chi ta thấy ngay một số quan hệ cơ bản như sau:

– Thập nhị sinh: Tý sinh Sửu, Sửu sinh Dần, Dần sinh Mão, Mão sinh Thìn, Thìn sinh Tý, Tý sinh Ngọ, Ngọ sinh Mùi, Mùi sinh Thân, Thân sinh Dậu, Dậu sinh Tuất, Tuất sinh Hợi, Hợi sinh Tý
– Thập nhị khắc: Tý khắc Dần, Dần khắc Thìn, Thìn khắc Ngọ, Ngọ khắc Thân, Thân khắc Tuất, Tuất khắc Tý; Hợi khắc Sửu, Sửu khắc Mão, Mão khắc Tỵ, Tỵ khắc Mùi, Mùi khắc Dần, Dần khắc Hợi.
– Lục sinh: Sửu sinh Ngọ, Tý sinh Tỵ, Hợi sinh Thìn, Tuất sing Mão, Dậu sinh Dần, Thân sinh Sửu.
– Lục khắc: Mùi khắc Tý, Ngọ khắc Hợi, Tỵ khắc Tuất, Thìn khắc Dậu, Mạo khắc Thân, Dần khắc Mùi.
– Tứ xung: Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
– Tam hợp: Tý, Thìn, Thân
Dần, Tuất, Ngọ
Tỵ, Dậu, Sửu
Mùi, Mão, Hợi
Như vậy, cấu trúc thời gian theo địa chi là cấu trúc thời gian tiến hoá của sự vật, vận động chu kỳ thời gian qua 12 yếu tố (thời kỳ) Thân -> Dậu -> Tuất -> Hợi -> Tý -> Sửu -> Dần -> Mão -> Thìn -> Tỵ -> Ngọ -> Mùi.
Vận động của Địa chi dược phân ra thành 2 loại. Vận động thuận từ các yếu tố dương hơn tới các yếu tố âm hơn và vận đông ngịch từ các yếu tố âm hơn tới các yếu tố dương hơn. Mặt khác, chính giữa của Thủy là nơi dương nhất, chính giữa của Hỏa là nơi âm nhất.
Do đó, vận đông Địa chi thuận là:
Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ
Vận động Địa chi Nghịch là:
Ngọ > Mùi > Thân > Dậu > Tuất > Hợi
Do đó, vận động Địa chi từ Thuận tới Nghịch như sau:
Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ > Ngọ > Mùi > Thân > Dậu > Tuất > Hợi
Như vậy, Địa chi đại diện cho thời kỳ phát triển của các yếu tố trong bản thân sự vật.

3. Thiên can

Như trên đã thấy, mô hình Địa chi chỉ vận động của tính chất thời gian khi mâu thuẫn âm dương đủ để sự vật tiến hoá thành sự vật khác. Mô hình này vận động qua 2 chu kỳ Ngũ hành (âm và dương) theo chiều Ngũ hành tương sinh và đi qua 2 hành Thổ nên nó có 12 yếu tố gọi là các Địa chi.

Đối với vũ trụ, thời gian tới sinh huỷ của nó vô cùng lớn, do đó khi xét ảnh hưởng của nó tới sự vật thì chỉ xét đến cấu trúc phát triển này mà thôi, không xét đến cấu trúc thời gian tiến hóa gồm 12 Địa chi, chỉ xét đến cấu trúc Ngũ hành của nó.

Mỗi một yếu tố Ngũ hành này gồm 2 yếu tố con lần lươt hưng vuợng, một dưong và một âm nên cấu trúc chu kỳ phát triển tính chất thời gian (khi chưa có sự sinh huỷ) gồm 10 yếu tố (các yếu tố âm, dương của Ngũ hành gọi là thập Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí) vận động theo chiều dòng Sinh khí là:

Mộc > Hoả > Thổ > Kim > Thuỷ

Giáp > Ất > Bính > Đinh > Mậu > Kỷ > Canh > Tân > Nhâm > Quí

Tương ứng với chiều dòng Sinh khí trong các quái như trên đã thu được là:

Chấn > Cấn > Khôn > Ly > Thổ+ > Thổ- > Tốn > Đoài > Càn > Khảm

Như vậy, thập Thiên can tương ứng với các quái là:

Giáp = Chấn

Ất = Cấn

Bính = Khôn

Đinh = Ly

Mậu = Thổ+

Kỷ = Thổ-
Nhâm = Càn
Quí = KhảmCăn cứ vào đồ hình mô tả quan hệ Bát quái ta được đồ hình mô tả quan hệ thập Thiên can như sau:

 

Resized to 84% (was 889 x 889) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Đồ hình quan hệ thập Thiên can này không những cho phép ta lý giải được tất cả các câu mô tả quan hệ thập Thiên can mà cổ thư chữ Hán truyền lại như:

Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh,

Mậu hợp Quí phá Giáp khắc Kỷ,

Bính hợp Tân phá Nhâm xung Đinh,

Canh hợp Ất phá Bính xung Tân,

Nhâm hợp Đinh phá` Mậu xung Quí

….

Mà còn có thể thấy rõ toàn bộ các quan hệ khác của chúng như tứ xung:

Giáp, Ất, Mậu, Tân

Bính, Đinh, Canh, Quí

Mậu, Kỷ, Nhâm, Ất

Canh, Tân, Giáp, Đinh

Nhâm, Quí, Bính, Kỷ

Như vậy, Thiên can đại diện cho yếu tố chu kỳ, thời kỳ phát triển của Vũ trụ mà trong đó, sự vật khảo sát tồn tại và phát triển, chịu ành hưởng của các yếu tố đó.

4. Sinh, Vượng, Mộ của sự vật

Một sự vật từ khi hình thành tới khi bị huỷ diệt phải trải qua 5 thời kỳ liên tiếp sau:

– Thời kỳ Mầm mống: Những yếu tố cơ bản mới có mầm mống hình thành mà chưa phát triển. Thời kỳ này bắt đầu khi sự vật trước bắt đầu suy giảm.

– Thời kỳ Sinh: Những yếu tố cơ bản của sự vật hình thành và phát triển nhanh chóng. Sự vật trước bắt đầu tiêu vong.

– Thời kỳ Vượng: Mọi yếu tố cơ bản của sự vật phát triển mạnh mẽ và ổn định. Các yếu tố cơ bản của thời kỳ trước đã hoàn toàn bị tiêu vong.

– Thời kỳ Mộ: Những yếu tố cơ bản của sự vật bắt đầu suy giảm, mâu thuẫn âm dương làm suy yếu sự vật. Bắt đầu hình thành các mầm mống của các yếu tố cơ bản sự vật mới.

– Thời kỳ Huỷ: Những yếu tố của sự vật bắt đầu tiêu vong, những yếu tố của sự vật mới bắt đầu phát triển nhanh chóng.

Giả sử sự vật phát triển, sinh hoá trong lòng một sự vật khác lớn hơn bao trùm. Lúc đó, nó sẽ thuộc một hành nào đó trong sự vật lớn. Các thời kỳ phát triển của nó cũng bị qui định bởi các hành của thời kỳ lớn theo chiều tương sinh.

Sự xuất hiên của sự vật mới khi sự vật cũ bị tiêu vong phải theo chiều dòng Hoá khí như đã phân tích ở phần trên. Điều ấy có nghĩa là hành của một thời kỳ của sự vật mới là hành của thời kỳ tương ứng của sự vật cũ dịch đi một hành ngược chiều tương sinh hay nói cách khác một hành của một thời kỳ sự vật mới sinh hành thời kỳ tương ứng của sự vật cũ.

Mặt khác, khi các sự vât cũ, mới nối tiếp nhau ra đời, tiêu vong môt cách xen kẽ như thế, biểu hiện của sự vât là biểu hiện của 3 thời kỳ trội hơn là Sinh, Vượng, Mộ còn các thời kỳ Mầm mống và Huỷ mờ nhạt đi. Do đó, hành của sự vật là hành của 3 thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ còn hành của Mầm mống, Hủy bị “lặn” đi.

Theo nguyên tắc đó, hành của thời kỳ Mộ của sự vật cũ bao giờ cũng khắc hành của thời kỳ Sinh của sự vật mới, hay hành của thời kỳ Sinh (Vượng, Mộ) sự vật cũ luôn “sinh” hành của thời kỳ Sinh (Vượng, Mộ) sự vật mới. Do 3 thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ kéo dài 3 hành, nên hành thời kỷ này sinh hành của thời kỳ sau nó 4 hành. Đó chính là cơ sở nguyên lý “cách bát sinh tử” của thuyết Âm dương Ngũ hành cổ truyền.

 

Resized to 74% (was 1000 x 996) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Resized to 67% (was 1116 x 572) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Giả sử rằng, hành của sự vật lớn vận hành theo chiều tương sinh liên tiếp là Mộc > Hỏa > Thổ > Kim > Thủy > Mộc > hỏa > Thổ > Kim Thủy > … Sự vật con vận hành trong sự vật lớn theo nguyên tắc như mô tả ở trên. Ta thu được các hành của sự vật con vận hành như sau:

Resized to 41% (was 1813 x 429) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Qua sơ đồ này ta thấy quan hệ giữa sự vật lớn và sự vật con có 5 thời kỳ rõ rệt lặp đi lặp lại cứ 3 hành liên tiếp một lần tổng cộng trải qua15 hành tất cả:- Thời kỳ Lớn hòa thời kỳ Con.

– Thời kỳ Lớn sinh thời kỳ Con.

– Thời kỳ Lớn khắc thời kỳ Con.

– Thời kỳ Con khắc thời kỳ Lớn.

– Thời kỳ Con sinh thời kỳ Lớn.

Tính chất của các thời kỳ sự vật Con như sau:

· Một thời kỳ sự vật Con gồm 3 hành lần lượt ở Sinh, Vượng, Mộ

· Hành cuối của thời kỳ trước (Mộ) khắc hành đầu (Sinh) của thời kỳ sau

· Các hành của thời kỳ sau sinh các hành tương ứng của thời kỳ trước (chiều dòng Hóa khí)

————

Cập nhật lúc 05 Tháng sáu 2008 – 06:43 PM

5. Bảng Lục thập hoa giáp

Giả sử thời gian vũ trụ vận động gồm 5 hành và 10 thiên can như đã xét ở trên. Vận khí của một sự vật chịu tác động của vũ trụ như là một yếu tố con trong sự vận hành của vũ trụ, thể hiện như các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ và sinh ra bản mệnh của sự vật đó.

Áp dụng các qui tắc Sinh, Vượng, Mộ ở trên ta xây dựng được sự liên hệ giữa Thiên can và Vận khí như thể hiện trên đồ hình sau:

+ Trên đồ hình, Thiên can bắt đầu tử hành Thuỷ thể hiện nguyên tắc vạn sự sinh từ Đạo, biến đổi từ Dương, vận động theo chiều tương sinh.

+ Ở Thời kỳ đầu tiên, Thiên can hoà Vận khí thể hiện cái tính của thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn trong tương tác âm dương còn chưa thể hiện rõ.

+Tiếp theo cứ 3 hành một thời kỳ: Thiên can sinh Vận khí, Thiên can khắc Vận khí, Vận khí khắc Thiên can, Vận khí sinh Thiên can.

+ Các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ của Vận khí được thể hiện trên đồ hình.

Như vậy, Qua 15 hành thì lặp lại chu kỳ thời gian có hành Thiên can và Vận khí trùng nhau.

Resized to 93% (was 800 x 153) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Tiếp theo, Vận khí sinh bản mệnh được thể hiên bằng đồ hình như sau:

Resized to 93% (was 800 x 372) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Các hành Thiên can còn được chia nhỏ thành Thiên can gồm 10 yếu tố Nhâm, Quí, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí bắt đầu từ hành Thuỷ. Đồng thời, vận động của sự vật cũng chia ra thành 12 Địa chi, thể hiện thời gian tiến hoá. Thêm các yếu tố Thiên can, Địa chi vào đồ hình vừa dựng, tiếp tục nó cho tới khi kết thúc chu kỳ gồm các khoảng thời gian mà đặc trưng là các yếu tố Thiên can, Địa chi, Vận khí, Bản mệnh không lặp lại ta được bảng phân bố thởi gian như sau, gồm 60 khoảng:

Resized to 93% (was 800 x 258) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image
Áp dụng bảng phân bố đó cho thời gian mỗi khoảng là 1 năm, ta thu được bảng Lục thập hoa giáp mà người xưa truyền lại đã được hiệu chỉnh lại như sau:Posted Image

————

Cập nhật lúc 07 Tháng sáu 2008 – 01:07 AM

6. Giờ quan sát

Giả thiết rằng, nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) là một sự vật, vận động trong môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất, có chu kỳ thay đổi là 1 tháng, có cấu trúc 12 cung Địa chi phân bố theo giờ trong ngày. Cứ qua 1 tháng, nhịp sinh học vận động qua 12 Địa chi, gồm 2 chu kỳ Ngũ hành (1 âm và 1 dương). Như trên đã khảo sát, cứ tiến hoá qua một bước âm dương hay một Ngũ hành, nhịp sinh học chuyển qua một giai đoạn mới mà các yếu tố của nó có quan hệ sinh ra yếu tố tương ứng ở giai đoạn trước, hay nó vận động được 1 bước theo chiều dòng Hoá khí, ngược chiều tương sinh. Như vậy, cứ qua 1 tháng (gồm 1 chu kỳ Địa chi 2 Ngũ hành), các yếu tố của nhịp sinh học đó dịch chuyển ngược chiều tương sinh 2 bước, cứ qua nửa tháng, dịch chuyển 1 bước.

Mặt khác, khí âm dương của Vũ trụ được con người cảm ứng tạo nên một nhịp sinh học (cụ thể về vấn đề sinh nở) . Nhịp sinh học này so với môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất là thứ cấp, sinh sau, nên các yếu tố của chúng không thể đồng thời với các yếu tố của sự tương tác Vũ trụ tới Trái đất, mà phải có một độ trễ nhất định. Giả thiết rằng độ trễ này bằng một bước vận động của trường khí Vũ trụ. Điều đó có nhĩa là, khi tương tác của Vũ trụ tác động tới Trái đất bắt đầu ở cung tháng Tý, giờ Tý thì nhịp sinh học bắt đầu ở đầu cung Hợi (Chậm 1 bước so với trường khí từ Mặt trời)

Biểu diễn trên sơ đồ quá trình tiến hoá của nhịp sinh học ta được: (xem hình vẽ)

+ Vòng Địa chi ngoài cùng biểu diễn phân bố cung giờ Địa chi.

+ Vòng Địa chi trong biểu diễn phân bố các yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) theo thời gian Địa chi trong ngày. Cứ qua 1 tháng, vòng Địa chi này vận động nghịch 2 bước bằng 60 độ. Qua 12 tháng, Địa chi nhịp sinh học quay nghịch được 2 vòng.

+ Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu.

+ Ở tháng 12 (tháng Sửu), nhịp sinh học quay ngược 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Sửu, nhịp sinh học đóng ở đầu cung Sửu. Tháng Sửu khắc cung Mùi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Ngọ. Giờ Ngọ xấu.

+ Ở tháng 1 (tháng Dần), vòng Địa chi nhịp sinh học quay ngược tiếp 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Dần. Nhịp sinh học đóng ở đầu cung Mão. Tháng Dần khắc cung Hợi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Thân. Giờ Thân xấu.

Posted Image

Căn cứ vào sơ đồ trên ta có thể lập bảng vị trí các cung của nhịp sinh học tương ứng với các giờ trong ngày của tháng như sau:

Resized to 93% (was 800 x 391) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image

Căn cứ vào bảng trên ta thấy:

– Tháng Tý (11) xung cung Ngọ nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi trong ngày. Giờ Mùi xấu.

– Tháng Sửu (12) xung cung Mủi nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ trong ngày.Giờ Ngọ xấu.

– Tháng Dần (1) xung cung Thân nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ trong ngày. Giờ Tỵ xấu.

– Tháng Mão (2) xung cung Dậu nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn trong ngày. Giờ Thìn xấu.

– Tháng Thìn (3) xung cung Tuất nhịp sinh học đóng ở giờ Mão trong ngày. Giờ Mão xấu.

– Tháng Tỵ (4) xung cung Hợi nhịp sinh học đóng ở giờ Dần trong ngày. Giờ Dần xấu.

– Tháng Ngọ (5) xung cung Tý nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu trong ngày. Giờ Sửu xấu.

– Tháng Mùi (6) xung cung Sửu nhịp sinh học đóng ở giờ Tý trong ngày. Giờ Tý xấu.

– Tháng Thân (7) xung cung Dần nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi trong ngày. Giờ Hợi xấu.

– Tháng Dậu (8) xung cung Mão nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất trong ngày. Giờ Tuất xấu.

– Tháng Tuất (9) xung cung Thìn nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu trong ngày. Giờ Dậu xấu.

– Tháng Hợi (10) xung cung Tỵ nhịp sinh học đóng ở giờ Thân trong ngày. Giờ Thân xấu.

Những giờ xấu trên được cổ nhân truyền lại cho hậu thế trong bài ca giờ quan sát được Nguyễn Vũ Tuấn Anh giới thiệu trong nhiều tác phẩm của mình.

Căn cứ vào bản trên và các quan hệ Địa chi, ta có thể suy ra các giờ tốt, trung bình trong tháng. Ví dụ:

– Tháng Tý (11) hợp cung Tý, Thìn, Thân của nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu, Dậu, Tỵ trong ngày. Giờ Sửu, Dậu, Tỵ tốt.

– Tháng Sửu (12) hợp cung Sửu, Dậu, Tỵ của nhịp sinh học đóng ở giờ Tý, Thìn, Thân trong ngày.Giờ Tý, Thìn, Thân tốt.

– Tháng Dần (1) hợp cung Dần, Ngọ, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi, Mão, Mùi trong ngày. Giờ Hợi, Mão, Mùi tốt.

– Tháng Mão (2) hợp cung Mão, Mùi, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất, Dần, Ngọ trong ngày. Giờ Tuất, Dần, Ngọ tốt.

– Tháng Thìn (3) hợp cung Thìn, Thân, Tý của nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu, Sửu, Tỵ trong ngày. Giờ Dậu, Sửu, Tỵ tốt.

– Tháng Tỵ (4) hợp cung Tỵ , Sửu, Dậu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thân, Tý, Thìn trong ngày. Giờ Thân, Tý, Thìn tốt.

– Tháng Ngọ (5) hợp cung Ngọ, Dần, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi, Mão, Hợi trong ngày. Giờ Mùi, Mão, Hợi tốt.

– Tháng Mủi (6) hợp cung Mùi, Mão, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ, Dần, Tuất trong ngày. Giờ Ngọ, Dần, Tuất tốt.

– Tháng Thân (7) hợp cung Thân, Tý, Thìn của nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ, Dậu, Sửu trong ngày. Giờ Tỵ, Dậu, Sửu tốt.

– Tháng Dậu (8) hợp cung Dậu, Tỵ, Sửu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn, Thân, Tý trong ngày. Giờ Thìn, Thân, Tý tốt.

– Tháng Tuất (9) hợp cung Tuất. Dần, Ngọ của nhịp sinh học đóng ở giờ Mão, Mùi, Hợi trong ngày. Giờ Mão, Mùi, Hợi tốt.

– Tháng Hợi (10) hợp cung Hợi, Mão, Mùi cũa nhịp sinh học đóng ở giờ Dần, Ngọ, Tuất trong ngày. Giờ Dần, Ngọ, Tuất tốt.

Như vậy, trong năm, các giờ tam hợp:

+ Thân, Tý, Thìn của các tháng Tỵ (4), Dậu (8), Sửu (12)

+ Tỵ, Dậu, Sửu của các tháng Thân (7), Tý (11), Thìn (3)

+ Tuất, Dần, Ngọ của các tháng Mão (2), Mùi (6), Hợi (10)

+ Mão, Mùi, Hợi của các tháng Tuất (9), Dần (1), Ngọ (5)

là các giờ tốt cho nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở)

Qua các phân tích trên chúng ta thấy, giờ quan sát chính là giờ xung khắc với giờ Thần hợp của Địa chi tháng. Giờ Thần hợp của Địa chi tháng chính là cung giờ mà yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) có Địa chi tương ứng với Địa chi tháng, cư ngụ. Tương tác của Vũ trụ tới Trái đất hỗ trộ tốt nhất cho nhịp sinh học của con người vào giờ Thần hợp, và gây tác hại nhiều nhất vào giờ Quan sát.

Biểu diễn trên bảng ta được:

Resized to 95% (was 784 x 600) – Bấm vào hình dể xem theo kích thước thậtPosted Image


——–

Nguồn:

http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/467-co-so-hoc-thuyet-am-duong-ngu-hanh/

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: